Cách đây khá lâu, tôi có viết một bài về “Ba điều cần thiết cho cuộc sống không sợ hãi”, ba điều đó là: niềm tin, nụ cười và nhân quả. Có niềm tin, biết mỉm cười và hiểu nhân quả sẽ giúp cuộc sống ta trở nên thanh thản, tinh thần mạnh mẽ hơn. Hôm nay thức sớm nói thêm về niềm tin.


Với tôi, niềm tin là những gì liên quan đến sự tin tưởng của bản thân mình, do đó đôi khi nó có thể là đức tin về tâm linh, là sự tin tưởng một người nào đó, sự tự tin ở bản thân và cũng có thể là hi vọng.

Câu hỏi tôi thường gặp nhất chính là “Có nên hoàn toàn tin tưởng một người nào đó hay không?”. Câu trả lời là bạn tin chính mình đến đâu thì tin người đến đấy, hoặc ít hơn. Niềm tin không phải là thứ mang ra đánh cược, cũng không phải giao hết trách nhiệm cho người mình tin tưởng, để rồi sau đó buông một câu “Tui đã lầm tin anh/em”.

Image result for Blessed are those who have not seen and yet believed

Trao niềm tin đúng cách không phải là hỏi xem “Người này có đáng tin không” mà nên tự hỏi “Mình có dám tin họ hay không”. Đó là kết quả của cách nhìn người của bản thân mình, và dự liệu những hậu quả có thể có - Mình có dám, và có khả năng gánh chịu những hậu quả đó hay không. Điều này đúng ngay cả trong những trường hợp đặc biệt như yêu từ cái nhìn đầu tiên hoặc yêu người không nên yêu gì đó. Khi trao đi niềm tin mà không kịp xem xét, không có khả năng xem xét bất cứ điều gì khác thì chỉ cần nghĩ đến một điều: Mình có chấp nhận hậu quả của việc này được không? Tin tưởng thật sự là vô oán, vô hối.

Jesus Christ nói “Phúc cho ai không thấy mà tin”. Nếu thấy mới tin, thì niềm tin đó phụ thuộc vào cái “thấy”. Mà trong cái thấy đó có biết bao nhiêu lừa dối, liệu mình có thấy đúng hay không? Vì cần phải thấy mới dám tin, nên ta luôn nghi ngờ, sợ hãi.

Niềm tin đến từ những gì được nghe, được thấy, bị thuyết phục... chỉ là những niềm tin giả tạm, nó sẽ sụp đổ ngay khi những tác nhân bên ngoài thay đổi, hoặc ta nhận ra mình nhìn nhầm. Niềm tin thật sự phải xuất phát từ bên trong, nó là cái luôn đúng, là cái sâu thẳm nhất.

Có những niềm tin xuất hiện một cách tự nhiên, vô thức. Từ nhỏ đến giờ, tôi vẫn luôn tin rằng mình sẽ sống tốt dù có bất cứ chuyện gì xảy ra với cuộc đời này hay với chính bản thân tôi. Niềm tin đó không có một cơ sở nào cả, nó chính là cơ sở cho mọi thứ.

Có những niềm tin được hình thành qua nhận thức. Điều quan trọng là những nhận thức này không phải đến từ kiến thức bên ngoài mà từ sự hiểu biết về chính mình. Kiến thức, thông tin là để giúp ta tìm hiểu, nhận định những vấn đề liên quan, chúng có tác dụng bổ trợ cho những niềm tin hình thành từ nhận thức. Như đã nói trên, muốn tin tưởng người thì phải tin tưởng mình, muốn tin tưởng mình thì phải hiểu mình. Muốn hiểu mình thì phải quan sát những phản ứng, suy nghĩ của bản thân với những tác nhân đến từ môi trường, xã hội, phải có những phút giây tĩnh lặng để quan sát nội tâm, để trò chuyện với chính mình. Đó là con đường hình thành nên niềm tin nhận thức.

Hi vọng cũng là một dạng niềm tin, nó là tin tưởng vào một điều có thể xảy đến trong tương lai. Mặt tốt của nó là khiến người ta can đảm tiếp tục sống, động viên, khích lệ người ta cố gắng ở hiện tại, bỏ qua quá khứ... Tuy nhiên, rất nhiều hi vọng cũng là nguồn gốc của thất vọng, khi người ta không đạt được đều mình mong muốn, hoặc đạt được nhưng nó không giống những gì họ tưởng tượng ban đầu... Hi vọng cũng là thứ rất nguy hiểm, ví dụ như khi những người nô lệ có hi vọng vào sự sống, họ sẽ không nổi dậy. Hi vọng có thể khiến người ta nhụt chí. Trong các truyện về chiến tranh Trung Quốc, có hình ảnh “đập nồi, dìm thuyền”: trước trận tử chiến không có nhiều hi vọng thắng, vị tướng quân sau khi điều binh lính sang sông đã ra lệnh đập nồi, dìm thuyền, tức là chặn hết đường lui, chỉ còn một đường chiến thắng là có thể sống. Đôi khi chặt đứt mọi hi vọng cũng là một dạng động lực vô cùng mạnh mẽ vậy.

Thật ra, nếu đủ tin tưởng ở bản thân thì ta sẽ chẳng cần hi vọng. Những hi vọng có đến cũng chẳng thể động viên hay khiến ta lo lắng nhiều hơn, vì ta đủ tin tưởng rồi. Hi vọng cũng chỉ gây thất vọng mà thôi, tin vào chính mình mới có thể bình tĩnh, ung dung trước mọi sự.

Niềm tin trong tâm linh, tôn giáo cũng vậy. Các vị giáo chủ là những bậc giác ngộ, họ hiểu về bản thân, về xã hội, về các quy luật của vũ trụ, họ biết cách làm con người trở nên an lạc, hạnh phúc, và họ truyền bá những tư tưởng của mình cho nhân loại. Tôi từng tự hỏi rằng, những vị giáo chủ nếu sinh ra ở thời đại ngày nay, liệu họ có gia nhập tôn giáo của chính mình không?

Nhiều người gia nhập các tôn giáo vì muốn có nơi ký thác niềm tin của bản thân mình. Ngay cả các giáo hội cũng khuyên tín đồ điều đó. Với tôi, thái độ tốt nhất dành cho tôn giáo là nghiên cứu, học hỏi, nương nhờ. Tôi nghiên cứu giáo lý, học hỏi đạo lý và nương nhờ các phương pháp tu luyện (như thiền), đôi khi là đức tin của các giáo chủ để hoàn thiện đức tin của bản thân và tìm hiểu sâu hơn về chính mình. Tôi không ký thác niềm tin của bản thân cho một ai khác.

Đừng hi vọng để rồi thất vọng. Trước tin mình rồi hãy tin người. Trao đi là chấp nhận mất đi. Muốn tin mình thì phải hiểu mình. Muốn hiểu mình thì phải bình tĩnh, kiên nhẫn, đừng tin vì thấy hay nghe, đừng trao niềm tin của mình lung tung để rồi chẳng biết tin vào đâu nữa.

Nguyễn Huỳnh Nhất Bảo
Related image

Nhiều năm trước, có một người thầy kể với tôi rằng mỗi sáng thức dậy mặc áo đi làm, ông thường tự nhắc bản thân bằng cách nói thầm mỗi lần cài từng cúc áo: Nhân - Lễ - Nghĩa - Trí - Tín. Đó là những phẩm chất cần có của người quân tử, mà theo ông là những phẩm chất cơ bản của con người. Hình ảnh đó khiến tôi ấn tượng mãi đến hôm nay, mỗi khi mặc áo sơ mi là nhớ.

Với tôi, hai điều quan trọng nhất là "Nhân" và "Tín". Nhân tất nhiên là hàng đầu. Sinh ra là người những ai cũng phải làm người thì mới thành người được. Không phải nhân loại thì mặc nhiên là người đâu. Chữ nhân luôn cần tự nhắc, cần tìm hiểu, rèn luyện và thực hành. Nhân đạo, nhân hậu, chân thành, tử tế, yêu thương mọi người, mọi loài và bản thân mình.

Lễ, Nghĩa, Trí là những điều quan trọng, nhưng với tôi chỉ là những thứ phụ thêm, trang trí thêm cho đẹp, có thì tốt, nhiều ít cũng không sao.

Trong xã hội, người ta lại thường khoe ra cái Lễ, cái Nghĩa, cái Trí của họ để chứng tỏ bản thân, vì Nhân và Tín vốn là những thứ bên trong, rất khó chứng minh mà là phải luôn luôn cố gắng, cả đời cố gắng nhắc nhở và thực hành.

Chính việc có hay không chữ Tín trong mỗi người lại khiến Lễ, Nghĩa, Trí có phải là những trò hài hay không.

Có người bảo tôi rằng chưa bao giờ thấy tôi thất hứa, để ý mới thấy rằng tôi rất ít khi hứa hẹn với ai điều gì. Đúng vậy, tôi cực kỳ ít hứa hẹn. Ngay cả khi người yêu hỏi rằng "anh sẽ yêu em mãi mãi chứ?" tôi cũng chỉ trả lời "Anh chưa biết nữa, chuyện đó để thời gian chứng minh đi."

Tôi chưa bao giờ ưa nói dối, hay những lời hứa hẹn cho qua, dù biết có những khi tất cả những gì người khác cần chỉ là một lí do, để cùng nhau lừa dối thực tại, để quên đời trong một phút giây thôi.

Nếu bạn nói ít và nghĩ nhiều thì tự nhiên lời nói của bạn sẽ chính xác, tinh tế, có trọng lượng hơn. Nếu bạn hứa ít và làm nhiều thì lời hứa của bạn có giá trị hơn vậy.

Với tôi, một người dù có ưu tú cỡ nào, Lễ, Nghĩa, Trí càng cao mà lại là người bất Tín, thì cũng không đáng quan tâm. Một người không giữ nổi một lời hứa nhỏ, thì họ nói về những điều to lớn, hoặc là nói yêu thương có khác nào thổi bong bóng đâu: buông ra là xẹp, thổi nhiều nổ luôn.

Xã hội ngày càng bất tín, người ta càng cần người khác mang đến niềm tin cho họ bằng những hợp đồng, những thứ này nọ để chứng minh, và họ càng bị lừa nhiều hơn. Chữ Tín là một giá trị vô hình, không phải là hợp đồng, hóa đơn, nhà lầu xe hơi hay những lời hoa mỹ.

Một người nếu sống bất Tín, thì sẽ luôn nghi ngờ thế giới xung quanh, khiến họ luôn bất an và sẽ càng bất Tín. Lễ, Nghĩa, hay Trí có thể cao, thấp với nhiều biểu hiện khác nhau bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng Tín thì chỉ có thể là không hoặc có. Một người nếu không có Tín, tôi sẽ rất khó tin họ có lòng Nhân.

Sống bất Tín, người ta sẽ nghi ngờ chính bản thân, xem nhẹ bản thân và từ đó sống một cuộc đời thấp hơn cuộc đời của chính họ. Ngược lại, càng trọng chữ tín người ta sẽ càng trọng bản thân hơn, sống tốt và hướng thượng. Trọng chữ Tín không phải là để người khác coi trọng, mà là để tự trọng lấy mình.

Mặc một chiếc áo sơ mi, nếu quên cài cúc đầu hay cúc cuối có thể không quan trọng bằng 3 cúc giữa. Thế nhưng đừng nhầm lẫn giữa phương tiện và mục đích. Nhẩm theo từng cúc áo chỉ là cách để tự nhắc mình, không phải thứ tự của tầm quan trọng. Lễ, Nghĩa, Trí là những thứ không thể thiếu, nhưng chủ yếu là để cho người khác nhìn thôi. Nhân và Tín thường dễ bỏ qua nhất, nhưng lại là cơ bản nhất của mỗi người. Đó là những giá trị cần có để cho chính mình, là giá trị quan trọng nhất. Hãy giữ lấy, giữ lấy.

Nguyễn Huỳnh Nhất Bảo
Trong đời người, từ khi sinh ra cho đến lúc làm nhân vật chính trong đám tang của mình, chúng ta đều vô tình hay cố ý chạy theo các nấc thang nhu cầu, từ thấp đến cao, có khi bị áp đặt phải theo, có lúc vì tham vọng chứng tỏ bản thân, có khi thật sự ham thích, có lúc chỉ đơn giản là bị cuốn theo đám đông và sợ cô đơn vậy.

Cũng giống như các giá trị đạo đức, cái hay của giáo dục là tạo ra những chuẩn mực để phân chia loài người thành các nhóm khác nhau, là đưa ra những bậc thang cao thấp để người ta biết xã hội đang coi trọng các giá trị nào mà cố gắng đạt tới nếu muốn được gọi là thành đạt.

Tháp nhu cầu của Maslow bắt đầu với những nhu cầu về mặt sinh học cơ bản nhất cho đến nhu cầu chứng tỏ bản thân và các nhu cầu về tinh thần, tâm linh khác. Nhiều người hiểu rằng "là con người thì phải có nhu cầu như thế", cũng tức là họ nghĩ nhu cầu thích chứng tỏ bản thân, thích thể hiện là một phần tất yếu của con người. Không đâu, tháp nhu cầu đó là kết quả của thống kê, nó là sản phẩm đến sau chứ không phải hoàn toàn là quy chuẩn định đặt mà con người phải đi theo đó.

Tháp nhu cầu của Maslow

Nếu chúng ta đi theo các quy chuẩn của con người, chúng ta sẽ sống như con người - giống loài luôn đi tìm hạnh phúc trong đau khổ, cuộc hành trình bất tận. Đạo đức, giáo dục, các loại thống kê hay chuẩn mực khác, đều tốt nếu ta biết sử dụng chúng chứ không phải áp chúng lên làm gánh nặng cho mình.

Các loại nấc thang là hữu ích nếu ta muốn leo lên đâu đó, và nếu ta đặt đúng nơi cần leo. Hơn hết, tất cả những thứ đó đều dựa trên đa số, trên những gì đã được thể hiện ra, chứ không phải là những gì nên có, trong khi mỗi người đều là một thực thể riêng biệt, tự do.

Về hai loại đạo đức

Từ nhỏ, mình được dạy về các phẩm chất đạo đức, rằng làm người cần có đức tính này kia, gương người tốt việc tốt các kiểu. Mình không hiểu vì sao những đức tính đó lại là tốt, chỉ biết nếu làm vậy người khác sẽ công nhận mình là người tốt. Trở thành một người đạo đức, sống đời sống đạo đức, xuất phát điểm là vì được công nhận. Vì nếu có hành vi xấu, trái đạo đức, thì sẽ bị rầy la quở mắng, trách phạt...

Chính vì không hiểu vì sao đạo đức lại là điều tốt, và sau này lại thấy ở mỗi nơi khác nhau có các kiểu đạo đức khác nhau, nên mình quay ra phản cảm với những gì gọi là chuẩn mực và đạo đức, cho đến khi mình đọc được một bài viết của nhà báo Đức Hoàng (trên FB Hoàng Hối Hận).

Theo cụ Hoàng, đạo đức có hai loại là đạo đức tự nguyện (moral) và đạo đức tối thiểu (ethic). Đạo đức tự nguyện là những giá trị nhận thức tự thân của mỗi người, thế nào là tốt, thế nào là xấu theo quan điểm của bản thân người đó. Đạo đức tối thiểu là những quy chuẩn của xã hội. Ví dụ moral là thấy cụ già băng qua đường thì tiến lên giúp đỡ, còn ethic là thấy cụ già băng qua đường thì không được tông chết cụ.

Và chúng ta khổ là vì nhầm lẫn giữa ethic và moral, thường khi gộp làm một. Ta đem các chuẩn mực tốt xấu của bản thân mình áp dụng lên người khác, nếu họ không có đức tính đó thì ta bảo họ là người xấu. Trong khi đó, moral cần phải xuất phát từ bên trong mỗi người và được thực hiện bằng các nguồn lực của chính bản thân người đó. Nghĩa là nếu anh không cảm thấy muốn giúp cụ già qua đường, muốn nhường ghế cho phụ nữ trên xe bus thì anh không buộc phải làm thế để trở thành người tốt, đó là moral của riêng anh.

Trường hợp chỉ trích những người giàu bỏ tiền tỷ ra để mua một món gì đó, sao không dùng tiền đó giúp người nghèo cũng là một dạng biến moral trở thành ethic.

Phân biệt rõ ràng giữa moral và ethic cũng giúp ta hiểu rõ chính mình hơn và ít áp đặt tư tưởng lên người khác, ít làm khổ nhau hơn. Ví dụ như về vấn đề mại dâm, ethic ở những vùng khác nhau là khác nhau, có vùng công nhận nó như một nghề, có vùng xem nó là một thứ xấu xa đồi bại. Công nhận hay bài trừ, đó là ethic của từng vùng. Còn tham dự hay đứng ngoài, đó là moral của chính mình. Moral của ta có thay đổi theo ethic không? Nghĩa là nếu ta ở một vùng mà mại dâm là hợp pháp thì ta có mua-bán dâm không? Vậy thì ta là người tốt hay người xấu? Đâu mới là moral thật sự?
Tóm lại: Những gì ta làm khi hoàn toàn tự do, bằng chính các nguồn lực của bản thân là moral, cách ta tuân thủ những quy luật của xã hội nơi ta sống là ethic.

Tốt hay xấu tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố, nhưng trước hết cần phân biệt rõ ràng để tránh áp đặt, hoang mang.

Nguyễn Huỳnh Nhất Bảo


Từ nhỏ tôi được nghe rằng con người vốn thiện, do xã hội dạy họ điều ác thôi. Tôi đã nghe điều đó mà không hỏi xem những cái ác trong xã hội từ đâu mà tới? Xã hội là gì nếu không phải là tập hợp những con người?!

Hồi nhỏ, tôi được dạy phải kính trọng và yêu thương những người lớn tuổi, bất kể ngoại hình hay xuất thân của họ ra sao. Tôi sống cạnh bến xe, nơi có rất nhiều dân lao động nghèo. Tôi yêu quý và hầu như tìm thấy điểm tốt ở tất cả mọi người. Với tôi, dù họ có xấu trong mắt người khác, bản chất họ vẫn tốt đẹp đó thôi.

Nhà tôi có nuôi một con gà trống, do người nhà dưới quê đem cho để làm thịt ăn, nhưng thấy nó đẹp nên để nuôi luôn. Một ngày tôi định rải cơm cho nó ăn mà không thấy, tôi đi ra đường tìm. Tới bên lề bến xe, tôi thấy một đám đông, trong đó có nhiều chú, bác tôi biết đang vây quanh, hò hét: “Đá đi, đá chết nó, mạnh lên...” Tự dưng có linh cảm chẳng lành, tôi chen vào vòng vây, thì thấy bên trong là con gà của mình đang đá với một con gà khác. Nhìn sứt lông, chảy máu, tìm đường chạy ra thì bị đẩy trở vào, tôi hoang mang không biết làm sao. Tôi nhìn kỹ xem nó phải con gà của mình không, và hỏi một người “Chú ơi, gà của ai vậy chú?” “Không biết, có đá thì coi đi, đang hay”. Tôi lao vào giữa vòng vây ôm lấy con gà, xua con gà kia đi. Đám đông hò hét “Mày làm gì vậy, đang đá mà” .... nhiều câu nữa tôi không nghe rõ. Tôi chỉ cố la lên “Gà của tao, gà của tao”. Mãi một lúc sau có mấy người nhận ra tôi rồi đám đông mới tản đi.

Càng về sau, khi cuộc sống dần phát triển, con người văn minh hơn, họ bắt đầu phê phán những hủ tục như tế sống động vật, những thứ mà trước đó được xem là linh thiêng, truyền thống.

Có một dạo, tôi nghe về những vụ tai nạn xe khách, tàu hỏa do dân dọc đường ném đá... để mua vui! Bạn nghĩ thú vui khi ném đá vào xe khách đang chạy, có thể giết hàng chục người như vậy là được dạy hay tự nhiên? Không phải hành động ném đá đâu, là cái thú vui đàng sau hành động đó. Rồi cả những trò bạo hành, biến thái... để làm gì nếu không phải để mua vui? Vui ư? Niềm vui đó không hề được dạy. Người ta chỉ có thể dạy làm cách nào để tìm vui trong cái lương thiện hơn thôi, còn niềm vui được hành hạ, giết chóc chính là cái “tự nhiên”.

Mạng xã hội cũng có trò ném đá, cũng là nơi con người thể hiện cái ác nguyên thủy bên trong mỗi người. Điều này có lẽ mỗi người đọc bài này cũng biết ít hay nhiều.

Không thể dùng hình ảnh một đứa trẻ mới sinh để đại diện cho “nhân tính”. Đứa trẻ hoàn toàn chưa đủ nhận thức và năng lực để thể hiện cái ác của con người. Một đứa trẻ nếu không được dạy dỗ hướng thiện, hoàn toàn có thể biểu hiện ra những thú vui hoang dã như hành hạ người khác, hành hạ động vật, đập phá đồ đạc hay tự hại bản thân.

Đa phần cái thiện không phải tự nhiên, nó là quá trình đấu tranh và lựa chọn. Khi đói và có thức ăn, bản tính tự nhiên là ăn hết, chỉ có qua giáo dục, nhận thức và suy nghĩ mới khiến người ta biết nhường nhịn, sẻ chia. Đối mặt với quyền lợi, bản chất tự nhiên là tranh giành phần mình, chỉ có đầu tranh với chính mình mới khiến người ta biết bao nhiêu là đủ.

Xã hội không dạy người ta ác, nó chỉ dạy người ta cách làm điều ác mà thôi. Ác hay không là động lực, là sự thôi thúc bên trong họ, đó mới là bản chất.

Hãy nhìn lại chính mình, nhìn những người xung quanh, ta sẽ thấy người thiện chính là do họ chiến thắng cái ác bên trong và sẽ thấy sự thỏa mãn khi làm ác, mong muốn làm ác của con người rõ ràng hiển hiện.

Trở thành một con người tốt đẹp hơn con người vốn có, là một chuỗi lựa chọn và đấu tranh. Phải nhìn rõ ra điều đó, ta mới trở về được bên trong chính mình, vì những tính ác đó là những trở lực tồn tại tự nhiên trong mỗi người. Sâu tận bên trong con người là cái thiện, là cái rỗng không, nhưng cái lõi đó lại bị bao bọc bởi muôn vàn lớp ác - cũng là những thứ tồn tại tự nhiên được sinh ra cùng với con người.

Nếu chỉ nói con người vốn thiện thì không bao giờ bỏ được những cái ác kia, chỉ có nhìn nhận nó, nhận ra rằng con người có nhiều cái ác tự nhiên thì mới đấu tranh, trừ bỏ, và quay về với cái thiện, về với chính mình - hoặc cũng không phải là chính mình nữa, là một cái ta tốt đẹp hơn.

Nhất Bảo

Chắc hẳn nhiều người đều nghe qua câu “Thà lấy đĩ về làm vợ hơn lấy vợ về làm đĩ.” À, ai chưa nghe thì giờ nghe rồi đó. Câu này không nhằm đề cao “đĩ” mà nhằm hạ thấp một cô “vợ làm đĩ”. Nghĩa đen, nghĩa bóng của nó thì hẳn mọi người đã hiểu. Vấn đề là lý do: Tại sao lấy đĩ về làm vợ lại tốt hơn lấy vợ về làm đĩ? Điểm chung của “vợ” và “đĩ” là đều làm “chuyện đó” với đàn ông, điểm khác nhau là vợ làm với chồng còn đĩ làm với nhiều người, vợ làm vì tình yêu, đĩ làm vì tiền (các trường hợp ngoại lệ bỏ qua)

Về phía “đĩ”

Cô ta biết cách thỏa mãn đàn ông, cô gặp qua, tiếp xúc qua, “thân mật” qua nhiều người, nhiều tầng lớp nên có thể nói cô ta hiểu đàn ông, hay nói đúng hơn là hiểu những gì đàn ông che dấu và chỉ bộc lộ trong những tình huống hiếm hoi mà “vợ” không bao giờ có thể biết.

Với “đĩ”, không có thằng chạy xe ôm, ông giám đốc, ông bác sĩ, tiến sĩ, ngài giáo sư, anh nhà văn, nhạc sĩ, ca sĩ hay ông thủ tướng, tất cả chỉ là “đàn ông”. “Đĩ” không thần tượng một ai hết, cô biết rõ bên trong lớp áo của từng người là thứ gì.

“Đĩ” nghe mòn tai những lời ngon ngọt và cũng chịu đựng đủ nhiều những ánh mắt rẻ khinh. Những cử chỉ galăng, những món quà bất ngờ hay những bông hồng xinh đẹp chỉ đổi lại sự ngạc nhiên thích thú giả tạo của cô thôi. Cô biết sau những thứ đó là gì.

Chính những lý do đó mà khi yêu, “đĩ” dễ dàng biết được ai thật lòng yêu mình và càng trân trọng tình yêu đó. Khi “đĩ” về làm vợ, cô càng trân trọng cơ hội thay đổi cuộc đời và sự rộng lượng của chồng nên tất cả mọi cám dỗ từ “đàn ông” khác không thể nào lay chuyển được cô.

Về phía “vợ”

Do chỉ quan hệ với mỗi một ông chồng nên dễ gây nhàm chán, đôi lúc lại “ngại ngùng” nên không thể “thỏa sức đam mê”, có nhiều trường hợp cô chỉ đáp ứng nhu cầu của chồng nên đâm ra cứng nhắc, dần dần dưỡng thành thói quen khiến những lần “gần nhau” chẳng còn cảm giác gì hoặc rất ít…

Vợ ra ngoài làm việc, giao tiếp với nhiều tầng lớp khác nhau: Anh này ăn nói hay, anh kia chuyên môn giỏi, anh nọ rất ga lăng; có anh rất giàu, anh rất thành công, anh rất lãng mạn… Đối mặt với tất cả những thứ tuyệt vời vô cùng vô tận đó, cô chỉ có một lá chắn để phòng thủ là “mình là gái đã có chồng”

Rồi có những “dịp tình cờ” hoặc do “điều kiện công tác” khiến cô thường xuyên tiếp xúc với một vài đối tượng, và “lửa gần rơm” cộng thêm chút gió thì còn gì bằng..

Đó là những lý do khiến “vợ” thành “đĩ”. Thông thường mà nói, đã là “vợ” thì không ai muốn vậy, sở dĩ điều này xảy ra là do nhiều cô vợ tưởng mình mạnh mẽ, thông minh đủ để nhìn thấu và xử lý hết mọi tình huống đối với mọi loại đàn ông bên ngoài xã hội. Các cô giao tiếp nhiều, nói chuyện “mạnh dạn” hơn lúc còn con gái, đôi lúc “đùa giỡn” bằng vài câu nói, cử chỉ hay ánh mắt “chọc gan” chơi. Tiệc tùng thì chén chú chén anh, tự cho mình là “ngàn ly không say”… cứ đưa đẩy như đi trên dây như thế rồi lúc té nhào mới giật mình tỉnh ngộ. Có người quay về xin tha thứ, có người càng lún càng sâu, có người bỏ chồng con chạy theo “con tim”…

“Vợ” làm “đĩ”, trách nhiệm của đàn ông ở đâu?

Thờ ơ: Đàn ông thiếu quan tâm, chỉ làm tròn “bổn phận” và không có gì mới mẻ trong mối quan hệ vợ chồng khiến cho vợ cảm thấy “cô đơn” trong chính ngôi nhà của mình, trong chính tình yêu của mình, nên một chút “ấm áp” bên ngoài sẽ dần dần trở thành hạnh phúc của vợ.

Ghen tuông, kiểm soát: Việc này là con dao hai lưỡi, nếu bỏ qua mà không quan tâm, không hay biết thì mất lúc nào không hay, còn kiểm soát chặt chẽ quá sẽ dẫn phát phản ứng càng mãnh liệt, mong muốn được “tự do” của vợ càng cao và đến lúc nào đó vì “tự do” mà vợ sẽ phát sinh một mối quan hệ hoàn toàn không thể dự đoán

Làm gì với chuyện đã rồi?

Nếu vợ có một (đôi) lần “lỡ dại” hay “bị hại” thì phải làm sao? Nếu đó không phải là do họ thật sự thay lòng thì hãy tha thứ và yêu thương họ nhiều hơn. Có câu nói rằng:
“Nửa ly vơi hay nửa ly đầy thật sự không quan trọng. Hãy vui và biết ơn vì bạn có cái ly và có chút gì bên trong đó.” – khuyết danh

Cái gì mất thì đã mất rồi, những gì còn lại mới là những điều ta thật sự đang có, đừng để mất thêm nữa. Nếu hai người vượt qua được chuyện đó thì tình cảm sẽ càng bền chặt hơn xưa, ở đây cũng giống như lấy một cô “đĩ” về làm “vợ” vậy.

“Một vết nứt nhỏ không có nghĩa là bạn bị vỡ, nó muốn nói lên rằng bạn đã vượt qua thử thách mà không tan thành từng mảnh vụn mà thôi.” – Linda Poindexter

Để kết bài này, xin chia sẻ bài thơ “Những Phút Xao Lòng”

Có thể vợ mình xưa cũng có một người yêu
(Người ấy gọi vợ mình là người yêu cũ)
Cũng như mình thôi, mình ngày xưa cũng thế
Yêu một cô, giờ cô ấy đã lấy chồng
Có thể vợ mình vì những phút mềm lòng
Nên giấu kín những suy tư, không kể về giấc mộng
Người yêu cũ vợ mình có những điều mình không có được
Cô ấy không nói ra vì sợ mình buồn
Mình cũng có những phút giây cảm thấy xao lòng
Khi gặp người yêu xưa với những điều vợ mình không có được
Nghĩ về cái đã qua nhiều khi nuối tiếc
Mình cũng chẳng nói ra vì sợ vợ buồn
Sau những lần nghĩ đâu đâu mình thương vợ mình hơn
Và cảm thấy mình như người có lỗi
(Chắc vợ mình hiểu điều mình không nói
Cô ấy cũng thương yêu và chăm chút mình hơn)
Mà có trách chi những phút xao lòng
Ai cũng có một thời để yêu và một thời để nhớ
Ai cũng có những phút giây ngoài chồng ngoài vợ
Đừng có trách chi những phút xao lòng
- Thuận Hữu  (Trích trong tập thơ Biển Gọi, NXB Đà Nẵng – 2000)

Hãy để cho mọi chuyện qua đi và hướng tới tương lai tốt đẹp. Cả hai người cùng như thế nhé!

Nguyễn Huỳnh Nhất Bảo

Tại sao ta phải sống? Câu hỏi này quá đơn giản, quá chung chung, quá dễ và cũng quá khó để trả lời.

Mark Twain nói:
“Cuộc đời mỗi người có hai ngày quan trọng nhất: Ngày bạn được sinh ra và ngày bạn hiểu được tại sao.”

Có thể nói đây là một câu hỏi mà mỗi người chúng ta trong vô tình hay cố ý đều đi tìm kiếm đáp án suốt cuộc đời mình, dù có cố tình lờ đi nhưng chẳng bao giờ bỏ được trước khi tìm ra đáp án. Câu hỏi “tại sao ta phải sống?” Thay vì “ta sống vì điều gì?” hay “tại sao ta có mặt trên đời này?”… Dường như có một sự khó chịu, bức bối, đau khổ hay thất vọng về cuộc sống tập trung ở từ “phải”.

Lý do thật sự để một người tồn tại trên đời này chỉ có thể được trả lời bởi chính bản thân người đó, tất cả những ai nói về số phận của người khác chỉ là sự định hướng mà thôi. Tất nhiên mình cũng không ngoại lệ, chẳng thể trả lời câu hỏi này một cách đúng đắn hoàn toàn. Ở đây mình chỉ có vài ý muốn bàn về chuyện “Tại sao ta phải sống?”

Đã sinh thì phải sống

Ta đến cuộc đời này một cách không tự chủ. Ta không được lựa chọn mình sẽ là con người hay con cọp, con chim, con heo, con gà… Lỡ sinh vào kiếp người rồi thì phải sống cho hết kiếp. Ý thức cầu sinh là bản năng cơ bản của mọi loài sinh vật, có câu “đến con kiến còn muốn sống” huống chi là con người. Dù trong hoàn cảnh thiếu thốn, nghèo khó, già yếu, bệnh tật… thì tất cả mọi người đều muốn được sống, dù có thể họ chẳng biết sống để làm gì! Tất nhiên cũng có nhiều trường hợp tự tử, nhưng đó chỉ là một số nhỏ những người đang ở trong trạng thái tâm thần bị kích động, bị cú sốc bất ngờ nào đó mà thôi. Lý do thứ nhất: Ta phải sống vì ta đã được sinh ra.

Phải sống vì người khác

Đây cũng là một lý do khác để ta sống trên đời, cũng có thể nói là một nguồn động lực. Khi tôi hỏi câu này với một số người quen thì nhận được câu trả lời là: “Phải sống để không phụ lòng ba mẹ, sống vì những người thân, người yêu…” Thế là tôi lại hỏi: “Vậy khi ba mẹ qua đời và những người thân, người yêu cũng bỏ ta đi thì sao?” […]

Khi ta chưa thật sự hiểu mình sống vì điều gì, thì những người thân xung quanh hay là một mục tiêu nào đó (trở thành tỷ phú chẳng hạn) cũng chỉ là lý do tạm bợ để ta bám víu mà thôi. Nhưng dù sao đó cũng là một lý do, nó sẽ trở nên vững chắc và tuyệt vời khi ta thật sự hiểu được mục đích sống của mình. Lý do thứ hai: Sống vì người khác.

Phải sống vì đam mê, sống vì mơ ước

Có những người may mắn tìm thấy ước mơ của họ từ rất sớm, và càng may mắn hơn là họ sở hữu những tiêu chuẩn, kỹ năng có thể theo đuổi ước mơ đó. Thế là họ xác định rằng: “Đời này của ta sinh ra là để làm cầu thủ/nhà tạo mẫu/ca sĩ/diễn viên/nhà khoa học/kỹ sư….” Họ sống chỉ vì mục tiêu đó, bất chấp tất cả những điều khác như gia đình, tình thân, các mối quan hệ xã hội… Thậm chí đôi lúc họ cảm thấy gia đình là rào cản ràng buộc bước tiến của họ nên nhiều người chọn cuộc sống cô đơn trên đỉnh cao danh vọng. Lý do thứ ba: Sống vì đam mê.

Phải sống để hưởng thụ

Loài người có được những thứ khoái cảm và ham muốn mà nhiều loài khác trên trái đất này không hề có, trong đó: Ăn ngon, mặc đẹp, tình dục, danh vọng, quyền lực và cả những thứ kích thích như rượu, thuốc lá, ma túy… Nhưng nếu đã nếm trải tất cả và nhàm chán tất cả thì sao?! Tất cả những cảm giác đó là đặc quyền của con người, nhưng đó là sự ban ân hay trừng phạt thì còn chưa rõ. Hiển nhiên nhiều người vẫn lấy đó làm một lý do để sống. Lý do thứ tư: Sống để hưởng thụ.

Vậy rốt cuộc thì “Tại sao ta phải sống?”

Có lẽ có những lý do khác nữa nhưng mình cảm thấy nêu ra vài lý do tiêu biểu như vậy đã đủ nhiều. Quay lại với câu hỏi “Tại sao ta phải sống?” Robin Sharma nói:
“The purpose of life is a life of purpose.”
Tạm dịch: “Mục đích của cuộc đời là một cuộc sống có mục đích.”

Bạn đã thấy qua những lý do để sống của người khác, chúng đều tồn tại và đều có thể tan vỡ bất kỳ lúc nào. Điều bạn cần làm là tìm ra mục đích riêng của bản thân bạn, giống như Robin nói: Lý do ta sống trên đời là để đi tìm lý do đó. Bạn cũng thấy những từ “phải” được lặp lại bên trên rất nặng nề phải không? Dù theo sau nó là một lý do thật hay, thật tốt, nhưng nếu ta không hiểu rõ, không chấp nhận được thì nó cũng chỉ là gánh nặng mà thôi. Nếu có một ngày bạn tìm ra câu trả lời, thì câu hỏi hẳn là sẽ mất đi chữ “phải”.

Hãy dành thời gian suy ngẫm về chính mình, tìm hiểu chính mình, xem bản thân mình muốn gì, mình có thể làm gì cho cuộc đời này. Đừng nhầm lẫn lý do ta sống với nhu cầu cuộc sống của ta (xem thêm tháp nhu cầu của Maslow)

Khi bạn đã hiểu được chính mình ở một mức độ nào đó, bạn chấp nhận rằng mình đã được sinh ra trên cõi đời này, bạn biết ơn cha mẹ, biết ơn tạo hóa ban cho hình hài và giác quan, trí óc, cảm nhận và biết ơn cuộc sống này mang đến cho bạn nhiều tri thức, bạn có thể quan tâm người xung quanh, làm những điều tốt đẹp cho họ, bạn có thể theo đuổi đam mê và thành công với đam mê, bạn cũng có thể hưởng thụ từng mẩu nhỏ của cuộc sống này.

Chúc bạn sớm tìm được đáp án cho riêng mình.

Nguyễn Huỳnh Nhất Bảo


Trong cuộc đời chúng ta, đau khổ thường bắt nguồn từ “không biết” và “nhầm lẫn”. Người ta nói yêu là khổ, nhưng thật ra đó là phiên bản rút gọn của câu: “Yêu là chấp nhận chịu khổ trong vui sướng.” Ai chà, nghe có vẻ biến thái quá nhỉ, thôi quay lại với tiêu đề. Khi yêu, ai chẳng muốn được yêu? Nghĩa là khi ta yêu một người thì ta muốn được họ yêu lại, hay là cảm giác mong chờ, ham muốn tình yêu của một người nào đó mới là yêu? Nghe thì có vẻ hợp lý thật: ai lại không muốn người mình yêu yêu lại mình đâu chứ?! Nhưng đây là một sự nhầm lẫn, chính nó là một phần nguyên nhân gây đau khổ trong tình yêu. “Yêu” và “muốn được yêu” không giống nhau, cũng chẳng liên quan hay có họ hàng gì với nhau cả.

Lúc mới yêu…

 “Những kẻ đang yêu thường quá bận yêu đến nỗi họ cảm thấy định nghĩa tình yêu là một thứ gì vô nghĩa lắm.” – Nhất Bảo

Vậy đó, khi mới vào yêu, mới cảm nhận những rung động của con tim và mơ màng trong ảo mộng tình yêu, thế giới trở nên tuyệt vời đến nỗi chẳng ai còn muốn tỉnh. Tỉnh táo chẳng có nghĩa lý gì với tình yêu cả. Xuân Diệu nói:

“Đố ai định nghĩa được tình yêu,
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều,
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,
Bằng mây nhè nhẹ, gió hiu hiu”

Xuân Diệu nhìn buổi chiều tà, nắng nhạt và mây, và gió cũng thấy tình yêu trong đó. Còn Xuân Quỳnh nhìn sóng:

“Sóng bắt đầu từ gió,
Gió bắt đầu từ đâu,
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau”

Có thể ta không biết làm thơ hay làm văn để diễn tả tình yêu, nhưng chắc hẳn ai cũng có một tình yêu đẹp, dịu dàng và nên thơ như thế. Nhưng với phần lớn chúng ta thì đó chỉ là khúc dạo đầu êm ái cho đoạn đường đầy đau khổ phía sau thôi.

Rồi thì yêu…

Ta biết mình yêu một người khi ta bỗng dưng biết tất cả những nơi người đó thường tới, và ta cũng “tình cờ” có mặt tại đó, chỉ để trao nhau một ánh nhìn lướt qua, người ta thì chẳng biết ra sao chứ riêng ta thì mỗi ngày một lượt tình cờ là hạnh phúc.

Ta biết mình yêu một người khi ta biết tên tuổi, quê quán, tính tình, sở thích, ước mơ, tài năng, tật xấu… và cả những đặc điểm mà người đó không biết là họ có… ngay cả khi chưa thật sự trò chuyện lần nào.

Ta biết mình yêu một người khi ta bất chấp đám bạn thân, phim Hàn Quốc hay game online để được ở bên cạnh họ, dù rằng chỉ để nói những chuyện vu vơ. Ta đã nghĩ ra rất nhiều điều hay ho muốn nói nhưng khi gặp nhau lại chẳng nhớ được gì…

Ta biết mình yêu một người khi những lúc xa nhau, ta tự hỏi giờ này họ đang làm gì, vui, buồn ra sao. Ta luôn lo lắng và suy nghĩ cho người đó, và khi họ đáp lại sự lo lắng, quan tâm của ta dù chỉ bằng cách trả lời câu hỏi: “Đang ở đâu, làm gì vậy?”…

Nhiều, nhiều điều khác nữa, điểm chung của tình yêu lúc này là một thứ tình cảm nào đó mà ta mang đi trao tặng cho người ta yêu, có thể là nhớ, có thể là quan tâm hay lo lắng… nhưng đó là món quà, chỉ cần họ nhận là ta vui rồi. Tất cả những gì ta muốn là trao đi yêu thương kia thôi.

Muốn được yêu…

Khi đã đến giai đoạn “yêu nhau” tình yêu đang trong giai đoạn đơn phương trao đi yêu thương sẽ xuất hiện thêm một thái cực khác, đó là sự mong muốn nhận lại yêu thương. Đây cũng là điều bình thường và tất yếu, vì mấy ai có thể mãi mãi, vô tận yêu thương để trao cho một người mà không hề nhận lại. Sự “có qua có lại” này chính là phương thức nuôi dưỡng mối quan hệ tốt nhất có thể chấp nhận được.

Sở dĩ tôi nói “mối quan hệ” chứ không phải “tình yêu” là vì theo tôi tình yêu là thứ tình cảm đơn phương mà ta trao cho người khác, khi đã phát sinh chuyện “muốn được yêu” thì đó là một mối quan hệ.

Tình yêu là cảm giác, mà cảm giác khi được sinh ra thì sẽ lớn lên, đến lúc nào đó nó sẽ già đi, và chết. Một mối quan hệ tình cảm muốn duy trì và phát triển thì cần phải vượt qua những lúc tình yêu “chết” và làm “tái sinh” tình yêu để duy trì.

“Điều cần thiết cho một cuộc hôn nhân thành công là ta phải yêu rất nhiều lần, nhưng luôn luôn với cùng một người.” – Mignon McLaughlin.

Muốn được yêu thì cũng không phải là điều gì sai trái cả. Nhưng ta cần phải ý thức rõ ràng rằng đó không phải là yêu. Đó không còn là tình cảm ta dành cho người ta yêu mà là dành cho chính mình. Điều này rất quan trọng, ta cần nhận biết rõ nó để phân biệt với những tình cảm, quan tâm mà ta dành cho người ta yêu, và để cân bằng hai thứ tình cảm đó.

Nếu cứ cho đi quá nhiều mà không nhận lại, trong một thời gian dài sẽ làm ta sinh ra cảm giác hụt hẫng, đến một lúc nào đó ta sẽ không còn sức lực và không muốn tiếp tục cho đi nữa. Chẳng may là người ta yêu lại cũng không quan tâm đến điều đó… thế thì mối quan hệ cũng đến hồi chấm dứt.

Còn nếu cứ mong muốn nhận lại quá nhiều, cứ lẫn lộn đó là tình yêu thì ngược lại sẽ làm cho người yêu mệt mỏi, đến lúc nào đó chính họ là người đuối sức, buông tay.

Tạm kết: Nếu chỉ yêu thôi thì tình yêu rất đẹp, đẹp như thơ! Nhưng muốn được yêu thì nên cân nhắc và đừng lẫn lộn. Cảm giác yêu là điều tự nhiên, nhưng cách yêu thì phải học. Một mối quan hệ nếu muốn duy trì thì chỉ bằng cảm giác là chưa đủ, mọi nhầm lẫn đều sẽ gây đau khổ. Hãy luôn tự hỏi: “Mình đang yêu ai, yêu người hay yêu chính mình?!”

Nguyễn Huỳnh Nhất Bảo

Thiên đường là nơi tất cả mọi người đều trân trọng và biết ơn những gì họ có, biết ơn những gì người khác làm cho họ dù ít hay nhiều. Địa ngục là nơi tất cả mọi người than vãn vì những điều họ không có hay đã mất đi, nơi ai ai cũng đều lấy oán trả ơn, nơi người ta vì đau khổ mà gây thêm đau khổ. Chúng ta ở trần gian, nơi lưng chừng giữa thiên đường và địa ngục. Vậy ta chọn đi lên hay đi xuống?

Địa ngục – khổ vì không biết ơn

Không biết ơn, hay là không trân trọng những gì mình đang có, không nhớ và cảm kích những gì người khác làm cho mình. Điều đó không chỉ làm cho bản thân ta khổ mà còn làm buồn, khổ những người chẳng may tiếp xúc với ta.

Để tôi kể cho bạn nghe câu chuyện này: Có một anh nhà giàu nọ rất hay làm từ thiện, hàng tuần anh ta đều phát cơm, phát gạo cho những người nghèo khổ trong vùng. Người ta rất vui vẻ và tôn xưng anh là đại thiện nhân, cũng như rất vui vẻ mỗi lần đến lãnh gạo. Rồi anh làm ăn thất bại, phải bán đi phần lớn gia sản, tuy không đến nỗi nghèo nàn nhưng gia cảnh không còn được như xưa. Anh không thể nào tổ chức bố thí, phát cơm, phát gạo như trước nữa. Thế là những người dân từng nhận bố thí kia lại quay sang trách mắng, chửi rủa anh là kẻ keo kiệt. Họ nói xấu về anh và không thèm nhìn mặt anh mỗi khi anh xuất hiện trên phố… Vậy đó, cho họ ăn hàng ngày họ không nhớ, mà chỉ cần thiếu một ngày là họ nhớ ngay.

Làm người cũng vậy, bạn sống tốt thì không mấy ai khen, có khen cũng chẳng thật lòng, thậm chí có người còn mang nghi ngờ xem bạn có phải “đạo đức giả” hay không. Bạn làm trăm việc tốt cũng không bằng lộ ra một việc xấu. Bạn nói lời nhỏ nhẹ họ nghe quen, đến khi chửi thề một tiếng họ bảo luôn “thằng mất dạy”.

Những điều đó làm nên địa ngục, chúng ta đang tạo ra một địa ngục xung quanh nhau. Và hơn nữa, ta còn tạo ra địa ngục trong bản thân mình. Ta luôn đau khổ vì những gì không đạt được, những thứ không có chứ chẳng bao giờ thấy hài lòng vì những gì mình đang có trong tay.

Thiên đường – nơi của lòng biết ơn và trân trọng

Ralph Marston nói như thế này:

“Bạn tặng cho ai đó một món quà, và họ chẳng thèm cảm ơn, vậy bạn có muốn tiếp tục tặng quà cho họ không? Cuộc sống này cũng vậy. Nếu bạn muốn nhận được nhiều điều tuyệt vời mà cuộc đời có thể ban tặng, bạn phải thành thật biết ơn những gì cuộc đời đã ban cho.”

Tôi kể cho bạn nghe một câu chuyện khác: Hôm qua là một ngày xui xẻo đáng ghét của tôi. Hơn 1 giờ sáng mà tôi vẫn chưa biết mình sẽ viết gì, nên kết quả là đến 3 giờ tôi mới viết xong. Điều đó làm tôi ngủ quên tới hơn 7 giờ 30 và đi làm muộn 1 tiếng. Đến khi về tôi phát hiện bánh xe của mình xẹp lép tự bao giờ. Vá xe xong, về nhà tôi thấy ngay hóa đơn tiền điện, tiền internet khi chưa kịp lãnh lương. Vừa ngồi xuống ghế xoa đầu thì người yêu gọi điện hủy cuộc hẹn… Tôi tự hỏi đã bao giờ trong cuộc đời mình gặp nhiều chuyện xui rủi, không như ý đến vậy chưa?!

Rồi tôi cũng bình tâm mà nghĩ: Tôi thức đến 3 giờ sáng nhưng vẫn viết xong bài, tôi viết được – đó là hạnh phúc! Tôi đi làm muộn nhưng vẫn không bị ai la mắng hay trễ nải công việc – đó là may mắn! Tôi phải đi vá xe nhưng điều may mắn là tôi có xe, và có tiền vá xe, và có cả tiệm vá xe gần đó! Tuyệt vời! Tôi phải trả tiền điện, tiền net chứng tỏ hàng tháng tôi vẫn hưởng thụ những dịch vụ đó, hiện giờ chưa có tiền nhưng rồi sẽ có thôi! Người yêu hủy hẹn?! Điều may mắn là có người yêu, không phải sao! Vì sao tôi lại không thấy may mắn, hạnh phúc như thế ngay từ đầu? Vì tôi chỉ nhìn thấy cái mất, cái thiếu mà không thấy cái mình đang có!

“Khi một người cảm thấy hạnh phúc vì có thể hít thở, hạnh phúc trong từng hơi thở, thì chẳng có gì trên đời khiến họ cảm thấy bất hạnh được nữa.” – Nhất Bảo

Trần gian hỗn tạp

Khi ta biết ơn những gì mình đang có, những gì được trao tặng, biết ơn người khác vì những gì họ mang đến cho ta, ta đang sống trong thiên đường của chính mình. Nhưng muốn xã hội này trở thành thiên đường, thì mỗi con người trong đó đều phải biết ơn và trân trọng.

Tôi cũng hay thích giúp người này người nọ, chỉ bằng cách cho họ lời khuyên hay chỉ bảo cái này cái nọ trong khả năng của mình. Tôi chỉ khuyên khi người ta hỏi hoặc tôi xem người đó thật sự thân thiết với mình. Thấy ai chịu nghe tôi mới nói còn người lạ nhiều khi cũng không dám nói nhiều đâu. Đôi lúc có người hỏi về cuộc sống, tình yêu, gia đình… thậm chí có bạn nhờ tôi giải bài tập hay dịch giúp vài đoạn tiếng Anh tôi cũng không ngại.

Có điều trong một vài trường hợp, tôi thật thấm thía câu “làm ơn mắc oán” khi có một số người tôi đã giúp đỡ, đã quen biết nhau, đã từng khá thân thiết với nhau lại quay ra nói xấu, không nhìn mặt tôi trong khi tôi chưa từng làm chuyện gì xúc phạm đến họ. Có lẽ họ bỗng dưng “ghét cái thái độ” lên mặt dạy đời của tôi chăng? Hay họ ghét cách tôi phê phán các lề thói “phong trào” mà họ luôn có mặt trong đó? Và tôi thấy mình vẫn đang ở trần gian – nơi người ta căm ghét nhau thì dễ mà trân trọng nhau thì khó!

Trần gian lúc nào cũng có thể thành thiên đường hay thành địa ngục, tất cả đều là ở lòng biết ơn của những con người sống trong đó! Hãy luyện tập bằng cách ghi ra những điều mà bạn biết ơn cuộc sống này, những người mà bạn biết ơn họ vì điều gì đó, hãy đọc danh sách đó mỗi ngày và bổ sung nó trong suốt cuộc đời hạnh phúc của bạn!

Nguyễn Huỳnh Nhất Bảo


Con người chúng ta, nếu hỏi 100 người rằng họ có sợ điều gì không thì 99 người sẽ đáp là có, hoặc có rất nhiều, còn một người còn lại là người đủ “can đảm” để nói dối. Cũng có thể có những người chưa thật sự biết sợ điều gì, nhưng đó là vì họ thật sự đã đối mặt với quá ít điều trong cuộc sống mà thôi. Tôi cũng từng nghĩ mình là người chẳng sợ điều gì cả, sau này tôi nhận ra điều ngược lại, rằng mình sợ nhiều thứ lắm, chỉ là cố tình phớt lờ chúng đi thôi. Trong bài viết này tôi xin chia sẻ đôi điều về nỗi sợ hay sự sợ hãi trong mỗi người chúng ta. Sợ hãi là gì? Ta được, mất gì khi sợ hãi? Và ta nên làm gì với nỗi sợ của chính mình.

Sợ hãi là gì?

Sợ hãi hay nỗi sợ là khả năng cảm nhận nguy hiểm, là cảm giác bị đe dọa bởi một mối hiểm họa hay một nguy cơ nào đó. Ở đây tôi gộp chung cả “lo lắng” vào, nghĩa là cảm giác bất an vì một khả năng mình chưa biết có xảy ra hay không, hoặc có khi chỉ là trong tưởng tượng. Ví dụ như sợ chuột, sợ rắn, sợ ma, sợ bóng tối, sợ thất bại, lo lắng khi đứng trước đám đông, sợ ba mẹ buồn vì bị điểm kém…

Như vậy, từ “sợ hãi” hay “nỗi sợ” tôi dùng trong bài này là để chỉ tất cả những điều vừa nêu trên.

Được gì từ nỗi sợ?

Tính cảnh giác, sự an toàn: Một người không biết sợ là gì sẽ dễ dàng hơn trong việc mạo hiểm đối mặt với những nguy cơ mà nếu có nỗi sợ tồn tại thì họ sẽ cẩn thận hơn, chuẩn bị chu đáo hơn. Sợ tốc độ cao thì ta sẽ không đua xe, lạng lách trên đường phố. Sợ rắn thì khi đi vào những vùng có bụi rậm ta sẽ cẩn thận quan sát hơn. Sợ bị mất trộm thì ta sẽ kiểm tra cửa nẻo kỹ càng hơn khi ra khỏi nhà…

Một nguồn động lực: Đôi khi sợ hãi cũng là một thứ động lực để người ta hoàn thiện bản thân mình hơn, hoàn thành những công việc còn dang dở. Sợ bị điểm kém nên phải học bài. Sợ người yêu bỏ nên quan tâm, chăm sóc người yêu và chú ý hoàn thiện bản thân mình hơn…

Và mất gì?

Mất kiểm soát: Sợ hãi là một cảm giác tiêu cực, khi sợ ta thường phóng đại vấn đề lên rất nhiều lần và mất khả năng tập trung, không dám đối mặt với vấn đề đó. Ví dụ một người sợ chó khi gặp một con chó dù không biết hiền hay dữ cũng rất sợ, không dám đến gần hoặc tệ hơn là bỏ chạy. Hay một người sợ ma có thể sẽ mất ngủ nếu giật mình giữa đêm, một mình trong phòng tối. Lúc này nỗi sợ đã kiểm soát người đó hoàn toàn.

Càng sợ càng mất: Nỗi sợ nếu không làm chúng ta mất khả năng phản ứng thì cũng có thể dẫn ta đến những hành vi tiêu cực khiến dẫn đến những kết quả tai hại hơn nhiều lần so với bình thường.
Đơn cử như việc nói dối để che lấp lỗi lầm. Do ta sợ rằng lỗi lầm đó một khi bị phát hiện sẽ dẫn đến một kết quả không mong muốn, nên ta tìm cách che dấu nó, và trong quá trình đó lại càng làm cho tình hình tệ hơn rất nhiều lần. Một đứa bé bị điểm kém, sợ cha mẹ buồn nên tìm cách giấu đi. Được một lần thì có lần hai, lần ba… nhưng đến cuối cùng kết quả cả năm đâu thể nào giấu được nữa. Lúc đó thì cha mẹ càng buồn nhiều hơn, không chỉ vì con học kém mà quan trọng nhất chính là sự không trung thực của con.

Nếu đứa bé nói ra ngay từ đầu, có thể cha mẹ không trách mà còn động viên, tìm hiểu và giúp con vươn lên trong học tập. Nếu có rầy la hay đánh đòn thì chuyện đó cũng rất nhỏ so với dẫn đến hậu quả cuối cùng kia. Hay là giữa hai người yêu nhau cũng vậy. Ban đầu giấu nhau một việc nhỏ gì đó vì sợ người kia “hiểu lầm” hay buồn giận, dần dần sa chân vào vũng bùn không rút ra được nữa, lỗi lầm ngày càng lớn đến nỗi chẳng thể nói ra. Nhưng có việc gì là giấu được mãi đâu. Đến khi vỡ lở ra thì quá nhiều đau khổ. Phải chi… Ôi, phải chi… Trên đời làm gì có bán thuốc hối hận chứ!

Đối mặt với nỗi sợ ra sao?

Tìm cách để tiêu diệt hoàn toàn nỗi sợ hay luyện tập để không biết sợ là điều không tưởng. Nếu không còn chút sợ hãi nào có lẽ cũng đồng nghĩa với không còn cảm giác. Cách tốt nhất mà tôi biết là nhận diện những nỗi sợ của mình và đối mặt với nó khi cần thiết.

Hồi nhỏ tôi sợ ma lắm, chắc là chẳng mấy ai không sợ ma đâu nhỉ. Tuy chưa bao giờ gặp ma nhưng tôi nghe kể nhiều chuyện về ma, và cộng với trí tưởng tượng của mình thì xung quanh tôi chỗ nào cũng có ma cả. Tôi không dám nhìn vào gương vì sợ đứa trong đó nhìn ra không phải là mình. Đôi lúc đánh răng hay rửa mặt tôi cũng ráng nhìn qua loa rồi quay đi, vì sợ cái bóng kia nó cười với tôi. Tôi không dám nhìn cửa sổ vì sợ có một bóng trắng nào đó lướt qua. Tôi không dám nhìn xuống gầm giường… không dám nhiều thứ lắm, nhưng kể mãi thì thành dọa ma các bạn không hay.

Và tôi vượt qua cái “thế giới đầy ma” đó bằng cách như sau: Mỗi tối khi tắt đèn đi ngủ, tôi chui nhanh vào mùng và tấn thật kỹ, không để một khe hở nào. Tôi cho rằng cái mùng là một thứ mà ma không thể đi vào, chỉ cần tôi ở bên trong là an toàn tuyệt đối. Tới lúc tôi tin điều đó hoàn toàn là lúc tôi ngủ ngon đến sáng. Rồi dần tôi nghe người ta nói là trong nhà có thổ địa, ông táo và các vị thần khác trông chừng nên ma không vào được. Thế là tôi an toàn khi ở trong nhà mình.

Những lúc phải đi ra đường vào khoảng 4-5 giờ sáng hay 10-11 giờ đêm, không còn cách nào, liều mạng thôi. Tôi tự cho mình là siêu anh hùng có thể chống lại mọi con ma nếu nó xuất hiện, chỉ cần tôi cảnh giác. Tôi đi vừa đủ nhanh và chú ý mọi động tĩnh xung quanh, nhìn kỹ mọi lùm cây, bụi cỏ và… sẵn sàng chiến đấu. Thế thôi, với mấy niềm tin tự tạo ra để đối nghịch với nỗi sợ như vậy là tôi bình yên vượt qua thời thơ ấu của thế giới ma.

“Nếu tin vào sức mạnh nhiều hơn tin vào nỗi sợ thì ta sẽ không còn sợ nữa.” – Nhất Bảo.

Nếu nỗi sợ là một vấn đề có thật, thì cách giải quyết là làm quen với nó. Ví dụ nếu bạn sợ chó, hãy đến chạm vào những con chó, có thể bắt đầu bằng những con chó nhỏ, dễ thương, bắt đầu bằng việc chạm một cái nhẹ rồi run cầm cập cả ngày, hôm sau chạm lâu hơn một chút… Khi làm quen với nỗi sợ thì nó cũng như bạn ta thôi!

Hãy nghiên cứu về những thứ làm bạn sợ hãi, hay là triệu chứng tâm lý của việc sợ một điều gì đó. Ngày nay khoa học cũng như thông tin rất phát triển rồi, họ có thể chỉ ra nhiều nguyên nhân và cách giải quyết. Nếu bạn chịu tìm hiểu và hiểu rõ về một vấn đề nào đó (ví dụ như hồn ma chẳng hạn) thì bạn sẽ bớt sợ đi, kết hợp với các phương pháp khác sẽ giúp bạn tự tin đối mặt với nỗi sợ của mình. Người ta sợ nhất là những gì họ không biết!

Hãy ý thức rằng nỗi sợ không phải là chính bạn. Hãy phân biệt nó nhưng một cảm giác riêng lẻ xuất hiện trong đầu bạn, đừng để nó điều khiển bạn. Có thể bạn chẳng bao giờ hết sợ, nỗi sợ luôn thường trực ở đó, nhưng bạn nhận ra nó và hành động cùng với nó. Có câu nói rằng: “Can đảm không phải là không biết sợ, mà là hành động bất chấp nỗi sợ đó.”

Mong rằng bài viết này có thể giúp bạn thêm một phần tự tin để đối mặt với những nỗi sợ hãi của mình. Quan trọng nhất tôi muốn khuyên bạn rằng đừng bao giờ vì sợ hãi mà nói dối, đó chỉ làm cho vấn đề nghiêm trọng thêm thôi. Hãy đối mặt và giải quyết nó!

Cố lên, hãy là một chiến binh dũng cảm – người vượt lên nỗi sợ của chính mình!

Về việc phân biệt “nỗi sợ” và “bạn”, mời đọc thêm bài viết “Kiểm soát cái tôi, thả trôi cơn giận”

Nguyễn Huỳnh Nhất Bảo


“Mỗi sáng thức dậy, con linh dương biết rằng nó sẽ bị giết nếu không chạy nhanh hơn con sư tử nhanh nhất. Mỗi sáng thức dậy, con sư tử biết rằng nó sẽ chết đói nếu không chạy nhanh hơn con linh dương chậm nhất.”

Hai câu trên rất hay, dùng hình ảnh thiên nhiên để động viên con người nỗ lực làm việc. Sau khi hoàn toàn hiểu rõ ý nghĩa trong thông điệp, tôi cảm ơn tác giả, và tôi nhìn thấy một khía cạnh khác: Linh dương không bị sư tử rượt thì sẽ không chạy mà tung tăng, nhởn nhơ trên đồng cỏ. Sư tử săn được con mồi cũng sẽ thôi không chạy nữa, và khi nào không đói thì nó sẽ không săn.

Vậy còn chúng ta, chúng ta đang chạy vì điều gì?

Chúng ta lao vào cuộc đời rồi bị cuốn theo cơm-áo-gạo-tiền, khi đã đạt được thì ta hướng đến danh lợi, xa hoa, quyền lực… Ta cứ chạy, chạy mãi trên một con đường không có điểm cuối. Ta nhận lấy stress để rồi… Xả stress để rồi lại nhận thêm càng nhiều stress.

Cứ như vậy, dần dần chúng ta sợ trống trải, sợ cô đơn, sợ những lúc không có việc gì làm…Ta cứ phải làm một việc gì đó, giống như mở Tivi chỉ để cho có tiếng động, chuyển kênh liên tục mà chẳng biết xem gì… Ngày nay thì có internet, có Facebook, ta “nhập hồn” vào thế giới này để lảng tránh sự trống trải trong tâm hồn, ta sợ, không dám đối diện với chính ta.

Ta tìm vui trong rượu bia, tiệc tùng hay “bay” trên sàn nhảy. Càng ngày người ta càng tạo ra nhiều nguồn “giải thoát” như thế để kiếm chác lợi nhuận cá nhân, chẳng mấy ai đưa ra giải pháp thật sự, chỉ là giải thoát khỏi hiện thực một chốc lát, sau đó trở về thấy càng phũ phàng hơn, và lại tìm lối thoát.

Có một lúc nào đó, ta cũng len lén tự hỏi: “Hạnh phúc của mình là gì?” “Tại sao ta đang làm những việc này?” “Tại sao ta phải chịu những áp lực và khổ đau này?” Và những đáp án sẽ hiện ra, gần như ngay lập tức. Chúng là những lý do mà cuộc đời mớm cho ta, để ta trở thành con rối của nó. Ngày qua ngày, cứ khi nào tự hỏi thì những đáp án “tự động” kia lại hiện ra, rồi theo thời gian những phút giây tự hỏi đó sẽ ít dần và biến mất.

Chỉ đến khi sức cùng lực kiệt, lúc về già, ta lại có nhiều thời gian nhìn lại… Nhưng khi đó cũng chỉ còn để tiếc nuối mà thôi. Ta lại mang điều tiếc nuối đó nói lại cho con cháu mình nghe, mong chúng không đi vào vết xe đổ của mình. Nhưng cuộc đời này cứ tiếp diễn mãi trong vòng lặp nhàm chán đó là vì phải chơi hết trò chơi mới biết nó chán, và những người chưa chơi thì không ai tin điều đó cả.

Ta nghĩ rằng tuổi trẻ phải làm việc để tuổi già an nhàn ư? Không đâu. Nếu hạnh phúc không ở đây thì nó chẳng ở đâu khác cả. Nếu tuổi trẻ ta lao đi mà chẳng cần biết gì thì về già ta cũng chẳng yên ổn nổi đâu, ta vẫn phải lo, vẫn phải làm, và vẫn chẳng biết mình lo gì, làm gì.

Chúng ta đều phải chạy, chạy thật nhanh, nhưng phải hiểu rõ khi nào chạy, lúc nào dừng, và quan trọng nhất là: “Ta đang chạy vì điều gì?”

Nguyễn Huỳnh Nhất Bảo

Vì sao người ta sinh ra có 2 tai, 2 mắt mà chỉ có một cái miệng? Đó là bởi vì con người cần nghe và nhìn nhiều hơn nói. Người xưa có câu: “Bệnh từ miệng mà vào, họa từ miệng mà ra.” Ấy vậy mà ít ai chịu hiểu, thậm chí họ còn dùng tai, dùng mắt để hỗ trợ cho cái miệng liên tục “phát thanh”. Nói nhiều cũng không phải cái gì tệ lắm, khổ một nỗi là người ta không kiểm soát cái “nói” của họ cho tốt nên tạo thành biết bao chuyện “thị phi” làm khổ bản thân và người xung quanh.

Thị phi là gì?

Thị phi hiểu đơn giản là dư luận, là lời đồn. Trong đó tiếng Hán Việt thì “thị” là đúng, “phi” là sai, “thị phi” đi chung với nhau ý muốn nói miệng đời không lường được, ai muốn nói đúng nói sai thế nào thì nói. Trong bài viết này tôi tạm hiểu thị phi là lời lẽ dành cho một người từ phía những người khác nhau trong xã hội.

Có mấy loại thị phi?

1. Nói quá: Loại này thường gặp nhất, cùng với tư tưởng “không có lửa làm sao có khói” và tinh thần “tam sao thất bản” nên sau vài lần truyền miệng cho nhau thì “sự thật” trở nên vô cùng to lớn và nguy hiểm. Ví dụ: người A thấy cô Y về nhà lúc 11h đêm, gặp người B nói: “Dạo này con Y hay đi đâu về khuya lắm, có hôm 1 giờ sáng mới mò về.” Xong người B gặp người C nói: “Con Y giờ ăn chơi nhậu nhẹt dữ quá, khuya lơ khuya lắc mới về nhà.” Người C lại nói với người D: “Con Y hư hỏng thật rồi, bỏ nhà đi mấy hôm mới về đấy!”….(truyện dài kỳ, thôi không kể nữa)

2. Đặt điều nói xấu: Loại này ít hơn, nhưng cũng ác hơn! Thường là họ ghen tức một điểm gì đó ở đối tượng nên tìm cách bôi nhọ cho thỏa lòng, họ sẽ đặt ra một số “giả thuyết” và suốt ngày nói về nó kiểu: “Không làm gì bất chính làm sao giàu thế được” hay “Nhìn nó xinh vậy chứ ai biết nó che dấu chuyện gì, hôm nọ tôi thấy @$@$@%…”

3. Châm chích quá khứ của người khác: Loại này là ác nhất. Họ nói những chuyện có thật, nhưng đó là những lỗi lầm của đối tượng trong quá khứ. Chuyện đã qua rồi nhưng họ cứ nhai đi nhai lại, hiện tại người ta đã thay đổi nhưng với họ thì người đó vẫn xấu xa và họ muốn cả thế giới biết điều đó. Có vẻ như người khác tốt lên thì họ không cam tâm vậy.

Như 3 loại tôi vừa kể trên là những loại thị phi từ những kẻ vô tri cho đến kẻ xấu, có thể còn một số loại khác nữa.

Làm sao để bình tâm với thị phi?

1. Tuyệt đối đừng tranh cãi, thanh minh với những người cố tình đặt điều nói xấu bạn, điều đó chỉ tạo thêm hứng thú cho họ mà thôi. Càng nói nhiều sẽ càng xuất hiện nhiều điểm sai lầm để cho họ phanh phui, mổ xẻ. Hơn nữa những người ngoài cuộc cũng sẽ bắt đầu nghi ngờ bạn.

2. Im lặng, phớt lờ: đây là giải pháp được khá nhiều người lựa chọn, và nó cũng hữu hiệu trong khá nhiều trường hợp, nhưng không phải là giải pháp ổn thỏa và lâu dài. Hãy tưởng tượng giống như bạn mặc áo mưa và đi trong mưa vậy, dù áo mưa có tốt cỡ nào nhưng nếu bạn đi lâu, thật lâu trong mưa thì vẫn lạnh và ướt. Im lặng và nhẫn nhịn với những cơn mưa nhỏ thôi.

3. Giải pháp hữu hiệu nhất nhưng cũng khó khăn nhất là thông cảm: đây cũng giống như việc mua một cái áo mưa và mua một cái nhà để che mưa vậy, nhưng nếu bạn mua được cái nhà thì sẽ không còn sợ mưa gió nữa, lúc đó bạn có thể thoải mái ngồi ngắm mưa. Khi có người công kích, nói xấu bạn, trước hết hãy dành thời gian nhìn lại bản thân mình theo những gì người đó nói, có bao nhiêu phần trăm là đúng. Đừng tức giận, bỏ quên người nói đó đi và tập trung tìm hiểu bản thân bạn, như vậy vừa lợi vừa không tức giận. Bước tiếp theo là thông cảm cho người nói xấu mình: tại sao họ phải làm điều đó? Họ tức giận như thế nào, họ được giáo dục ra sao? Nói vậy thì có lợi, có hại gì cho họ…. Lúc này bạn hoàn toàn đi suy nghĩ cho người kia mà quên luôn họ đang nói xấu bạn. Khi hoàn thành bước này, bạn lại thấy thương, thấy tội nghiệp cho họ, chỉ vậy thôi.

4. Dùng biện pháp mạnh khi cần: Cuộc đời không phải thiên đường nên vẫn còn nhiều kẻ ác. Vâng, ác chứ không phải xấu bình thường nữa. Nghĩa là khi bạn đã phớt lờ, lặng im, thông cảm mà họ vẫn cứ làm tới, làm hoài. Có thể họ bị sai khiến hay là nguyên nhân nào khác nhưng họ không chịu buông tha bạn mà vẫn tiếp tục đặt điều nói xấu, bôi nhọ danh dự bạn thì tốt nhất là bạn lẳng lặng thu thập chứng cứ và kiện ra tòa. Xin nhớ nguyên tắc đầu tiên là đừng tranh cãi với họ làm chi vô ích nhé. Hy vọng bạn không bao giờ phải dùng đến bước này.

Theo Phật giáo, khẩu nghiệp là một trong những nghiệp nặng nề nhất mà một người có thể tạo ra. Vết thương bạn gây ra trên thân thể người khác còn có ngày lành, còn vết thương gây ra do lời nói thì chẳng biết khi nào mới lành lặn được. Hãy cẩn trọng với lời nói của mình, đừng gây ra thị phi vì vô ý thức, cũng đừng nên vì một ai đó đã gây ra lỗi lầm trong quá khứ mà dùng lời lẽ nặng nề để hành hạ họ, như Oscar Wilde có nói:
“Every saint has a past, every sinner has a future.”
Nghĩa là: “Vị thánh nào cũng có một quá khứ, và tội đồ nào cũng có một tương lai.”

Chúng ta đều là người, chẳng ai hoàn hảo. Hãy tha thứ và nhìn nhau bằng những mặt tốt đẹp, hãy khen tặng và động viên nhau để cùng phát triển chứ đừng trù dập, mỉa mai nhau. Bạn chẳng thể nào cao hơn chỉ bằng việc đạp người khác xuống đâu. Xin được kết thúc bài viết này bằng một câu chuyện của Socrates mà tôi rất tâm đắc:

Chuyện gì nên nói?

Nguời hàng xóm đến gặp Socrates.- “Này ông Socrates ơi, ông có nghe chuyện này chưa?”
– “Khoan đã!” -Socrates ngắt lời người hàng xóm- “Anh có chắc rằng tất cả những gì anh sắp kể cho tôi đều đúng sự thật không?”
– “Ồ… cũng không chắc nữa. Tôi chỉ nghe người ta kể lại thôi.”
– “Thế à, Vậy chúng ta không cần quan tâm đến nó trừ phi nó là một chuyện tốt. Đó có phải là một chuyện tốt không?”-Socrates hỏi.
-“À không, không tốt. Đây là một chuyện xấu.”
– “Chà, anh có nghĩ tôi cần phải biết chuyện ấy để giúp ngăn ngừa những điều không hay cho người khác không?”
– “Ờ, ờ… quả thực cũng không cần lắm,”- Người hàng xóm trả lời.
“Tốt lắm,”- Socrates kết luận – “Vậy thì chúng ta hãy quên nó đi, bạn nhé. Còn có vô số chuyện đáng giá hơn trong đời sống. Chúng ta không thể mất công bận tâm tới những chuyện tầm phào, những chuyện vừa không đúng, vừa không tốt, vừa không cần thiết cho ai.”

Chúc bạn luôn an lành, và mong bạn để người xung quanh được an lành.

Nguyễn Huỳnh Nhất Bảo